Zinc oxide là một hợp chất
vô cơ với công thức ZnO. Nó thường xuất hiện như là một loại bột màu trắng, gần
như không tan trong nước. Bột được sử dụng rộng rãi như một chất phụ gia vào
nhiều tài liệu và các sản phẩm bao gồm cả nhựa, gốm sứ, thủy tinh, xi măng, cao
su (ví dụ, lốp xe), dầu nhờn, sơn, thuốc mỡ, chất kết dính, chất bịt kín, bột
màu, thực phẩm (nguồn gốc của Zn dinh dưỡng), pin, ferrites, chất chống cháy,
băng cứu thương, vv ZnO có mặt trong lớp vỏ Trái Đất chính là zincite khoáng sản; Các phương pháp sản xuất chính như sau :
Phương pháp gián
tiếp (Pháp)
Sau khi kẽm kim loại nguyên
chất tan chảy trong nồi nấu kim loại graphite, nó bốc hơi ở nhiệt độ cao hơn
907 ° C (thường là khoảng 1000 ° C) để tạo thành hơi kẽm, được oxy hóa bởi oxy
trong không khí để tạo ra oxit kẽm. Ánh sáng chói lọi đi kèm với sự giảm nhiệt
độ, và sau đó các hạt oxit kẽm được thu thập trong một khoang bụi thông qua một
ống truyền nguội. Phương pháp tổng hợp này đã được LeClaire của Pháp phổ biến
vào năm 1844, vì vậy phương pháp này cũng được gọi là phương pháp của Pháp. Sản
phẩm thu được bằng phương pháp này thường là các hạt oxit kẽm có kích thước
trung bình từ 0,1 đến vài milimet, micro milimet. Theo trọng lượng, hầu hết các
oxit kẽm của thế giới được thực hiện bằng phương pháp này.
Phương pháp trực tiếp (Hoa
Kỳ)
Các phương pháp trực tiếp sử
dụng các hợp chất chứa kẽm không tinh khiết như calamine hoặc kẽm kim loại làm
phụ phẩm, nguyên liệu thô lần đầu tiên được nung nóng và giảm carbon (như than
antraxit) để tạo thành hơi kẽm và hơi nước bị oxy hóa gián tiếp thành kẽm oxit.
Do độ tinh khiết thấp hơn của nguyên liệu thô nên sản phẩm cuối cùng thu được
bằng phương pháp trực tiếp có chất lượng thấp hơn so với phương pháp gián tiếp.
Phương pháp làm ướt hóa chất
Một phần nhỏ các sản phẩm công
nghiệp sử dụng dung dịch nước muối kẽm tinh khiết làm nguyên liệu để sản xuất
kẽm cacbonat hoặc hydroxit kẽm kết tủa bằng phản ứng hóa học. Kết tủa được lọc,
rửa sạch, sấy khô và nung ở nhiệt độ khoảng 800oC để thu được sản
phẩm.
Phương pháp tổng hợp phòng
thí nghiệm
Có nhiều phương pháp dành
riêng cho việc tổng hợp nghiên cứu khoa học và một số sử dụng cụ thể của oxit
kẽm. Các phương pháp này có thể dựa trên hình thái của oxit kẽm (oxit kẽm, màng
kẽm oxit kẽm, dây nano oxit kẽm), nhiệt độ tổng hợp (nhiệt độ thấp gần nhiệt độ
phòng hoặc nhiệt độ cao gần 1000°C), phương pháp xử lý (lắng đọng hơi hoặc dung
dịch) Tăng trưởng) hoặc các thông số khác được chia thành nhiều loại.
Các tinh thể đơn khối lượng
lớn (lên tới vài centimet khối lượng) thường được chuẩn bị bằng cách chuyển pha
hơi (lắng đọng hơi), tổng hợp thủy nhiệt, hoặc làm tăng sự tăng trưởng . Tuy
nhiên, vì áp suất hơi của oxit kẽm cao, phương pháp tăng trưởng nóng chảy không
thích hợp cho nuôi cấy các tinh thể đơn oxit kẽm. Chuyển pha hơi của các tinh
thể đơn oxit kẽm khó kiểm soát, điều này làm cho việc sử dụng các phương pháp
thủy nhiệt trong việc điều chế các tinh thể oxit kẽm đơn. Phương pháp chuẩn bị
màng mỏng oxit kẽm bao gồm lắng đọng hơi hóa học, lắng đọng hơi hóa chất kim
loại, lắng đọng điện hóa, lắng đọng laser xung, phún xạ, lắng đọng sol-gel,
lắng đọng lớp nguyên tử, nhiệt phân phun v.v.v
Trong phòng thí nghiệm, bột
màu trắng oxit kẽm thường được tổng hợp bằng phương pháp điện phân anốt của
dung dịch natri bicarbonate bằng cách sử dụng que kẽm. Phương pháp này tạo ra
hydroxit kẽm và hydro. Kẽm hydroxit được phân hủy thành kẽm oxit bằng cách nung
nóng.
Zn + 2 H2O → Zn
(OH) 2 + H2
*********************************************************************************
Thông tin liên hệ
Công ty TNHH Thiên Đỉnh Phong
Địa chỉ: 112/6A Đường Võ Nguyên Giáp, Ấp Tân Cang, Xã Phước Tân, Tp.Biên Hòa,T.Đồng Nai
Ms.Hiền (0974.383.108)
Web: www.thiendinhphong.com



